Trong lịch sử văn minh nhân loại, Trung Quốc cổ đại được biết đến là một trong những cái nôi của nhiều thành tựu khoa học – kỹ thuật quan trọng. Trong số đó, nổi bật nhất là “bốn phát minh lớn”, gồm giấy, kỹ thuật in, thuốc súng và la bàn. Những phát minh này không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trung Quốc mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của toàn thế giới. Đến nay, bốn phát minh lớn của Trung Quốc được xem là những đóng góp vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa đối với nhân loại.
1. Kỹ thuật làm giấy

Mãi đến thời Tây Hán, người Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre, lụa để ghi chép. Đến khoảng thế kỉ II TCN, người Trung Quốc đã phát minh ra phương pháp dùng xơ gai để chế tạo giấy. Ngày nay ở nhiều nơi tại Trung Quốc đã phát hiện được giấy làm từ thời Tây Hán. Tuy nhiên, giấy của thời kỳ này còn xấu, mặt không phẳng, khó viết nên chủ yếu là dùng để gói.
Đến thời Đông Hán, năm 105, một viên quan hoạn tên là Thái Luân đã dùng vỏ cây, lưới cũ, giẻ rách,…làm nguyên liệu đồng thời đã cải tiến kỹ thuật, do đó đã làm được loại giấy có chất lượng tốt. Từ đó, giấy được dùng để viết một cách phổ biến thay thế cho các vật liệu được dùng trước đó. Do công lao ấy, năm 114, Thái Luân được vua Đông Hán phong tước “Long đình hầu”. Nhân dân thì gọi giấy do ông chế tạo là “Giấy Thái hầu” và tôn ông làm tổ sư của nghề làm giấy.
Vào khoảng thế kỷ III, nghề làm giấy truyền sang Việt Nam, thế kỷ IV truyền sang Triều Tiên, thé kỷ V truyền sang Nhật Bản, thế kỉ VII truyền sang Ấn Độ.
Giữa thế kỉ VIII, do cuộc chiến tranh giữa nhà Đường và Ả Rập, kỹ thuật làm giấy của Trung Quốc truyền sang Ả Rập. Năm 1150, người Ả Rập lại truyền nghề làm giấy sang Tây Ban Nha. Sau đó, nghề làm giấy lần lượt truyền sang Ý (1276), Đức (1320), Hà Lan (1323), Anh (1460). Sau khi nghề làm giấy được truyền bá rộng rãi, các chất liệu dùng để viết trước kia như lá cây ở Ấn Độ, giấy papyrus ở ai Cập, da cừu ở châu Âu,…dều bị giấy thay thế.
2. Kỹ thuật in

Kỹ thuật in bắt nguồn từ việc khắc chữ trái trên các con dấu đã có trước từ đời Tần. Thời Nguỵ, Tần, Nam Bắc triều, Đạo giáo đã in nhiều bùa chú để trừ tà ma.
Hiện chưa xác minh được kỹ thuật in bắt đầu ra đời từ bao giờ nhưng điều chắc chắn là đến giữa thế kỷ VII (đầu đời Đường), kỹ thuật in đã xuất hiện. Sử sách ghi chép lúc bấy giờ nhà sư Huyền Trang đã cho in một số lương lớn tượng Phổ Hiền để phân phát bốn phương. Năm 1966, ở Hàn Quốc phát hiện được kinh Đàlani in vào khoảng năm 704 – 751. Đây là ấn phẩm cổ nhất trên thế giới đã phát hiện được.
Kỹ thuật in khi mới ra đời là in bằng ván khắc. Đây là một phát minh rất quan trọng giúp người ta có thể in nhiều bản trong một thời gian ngắn, công nghệ khắc in đơn giản, ít tốn, vì vậy cách in bằng ván khắc này đã được sử dụng rất lâu dài. Tuy nhiên, cách in này cũng có mặt chưa được tiện lợi lắm vì nếu không cần in nữa thì ván khắc sẽ vô dụng.
Để khắc phục nhược điểm đó, đến thập kỷ 40 của thế kỷ XI, một người dân thường tên là Tất Thăng đã phát minh ra cách in chữ rời bằng đất sét nung. Các con chữ được xếp lên một tấm sắt có sáp, xếp xong đem hơ nóng cho sáp chảy ra, dùng một tấm ván ép cho bằng mặt rồi để nguội. Như vậy sáp đã giữ chặt lấy chữ và có thể đem in.
Phát minh của Tất Thăng tuy là một tiến bộ nhảy vọt của nghề in nhưng vẫn còn một số nhược điểm như chữ hay mòn, khó tô mực, chữ không được sắc nét. Để khắc phục nhược điểm đó, từ thế kỷ XI, Thẩm Quát đã thử dùng chữ gỗ thay chữ đất sét nung những chưa có kết quả. Đến thời Nguyễn, Vương Trinh mới cải tiến thành công việc dùng con chữ rời bẳng gỗ. Sau đó, người ta còn dùng chữ rời bằng thiếc, đồng, chì nhưng chữ rời bằng kim loại khó tô mực nên không được sử dụng rộng rãi.
Từ đời Đường, kỹ thuật in ván khắc của Trung Quốc đã truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Philippin, Ả Rập rồi truyền dần sang châu Phi, châu Âu. Cuối thế kỷ XIV, ở Đức đã biết dùng phương pháp in bằng ván khắc để in tranh ảnh tôn giáo, kinh thánh và sách ngữ pháp. Năm 1448, Gutenberg người Đức dùng chữ rời bằng hợp kim và dùng mực dầu để in kinh thánh. Việc đó đã đặt cơ sở cho việc in chữ rời bằng kim loại ngày nay.
3. Thuốc súng

Thuốc súng là một phát minh ngẫu nhiên của những người luyện đan thuộc phái Đạo gia. Vốn là, đến đời Đường, Đạo giáo rất thịnh hành. Phái Đạo gia tin rằng người ta có thể luyện được thuốc trường sinh bất lão hoặc luyện được vàng, do đó thuật luyện đan rất phát triển. Nguyên liệu mà người luyện đan sử dụng là diêm tiêu, lưu huỳnh và than gỗ. Trong quá trình luyện thuốc tiên thường xảy ra các vụ cháy làm bỏng tay, bỏng mặt, cháy nhà,…và thế là họ đã tình cờ phát minh ra thuốc súng.
Đến đầu thế kỷ X, thuốc súng bắt đầu được dùng để làm vũ khí. Những vũ khí đầu tiên này được gọi là tên lửa, cầu lửa, quạ lửa, pháo, đạn bay,…Tác dụng của chúng chỉ là để đốt doanh trại của đối phương mà thôi. Đến đời Tống, vũ khí làm bằng thuốc súng không ngừng được cải tiến. Trong cuộc chiến tranh Tống – Kim, quân Tống đã dúng một loại vũ khí gọi là “chân thiên lôi”, tiếng nổ to như sấm, sức nóng toả ra hơn nửa mẫu đất, người và da bò nát vụn không còn dấu vết. Năm 1132, Trung Quốc đã phát minh ra loại vũ khí hình ống gọi là “hoả hương”. Lúc đầu hoả thương làm bằng ống tre to, phía trong nạp thuốc súng, khi đánh nhau thì đốt ngòi, lửa sẽ phun ra thiêu cháy quân địch.
Vào thế kỷ XIII, trong quá trình tấn công Trung Quốc, người Mông Cổ đã học tập được cách làm thuốc súng của Trung Quốc. Sau đó, người Mông Cổ chinh phục Tây Á, do đó đã truyền thuốc súng sang Ả Rập. Người Ả Rập lại truyền thuốc súng và súng vào châu Âu qua con đường Tây Ban Nha.
4. Kim chỉ nam

Từ thế kỷ III TCN, người Trung Quốc đã biết được từ tính và tính chỉ hướng của đá nam châm. Lúc bấy giờ Trung Quốc phát minh ra một dụng cụ chỉ hướng gọi là “tư nam”. Tư nam làm bằng đá thiên nhiên, mài thành hình cái thìa để trên một cái đĩa có khắc các phương hướng, cán thìa sẽ chỉ hướng nam. Như vậy, tư nam chính là tổ tiên của kim chỉ nam. Tuy nhiên, tư nam còn có nhiều hạn chế như khó mài, nặng lực ma sát lớn, chuyển động không nhạy, chỉ hướng không được chính xác nên chưa được áp dụng rộng rãi.
Đến đời Tống, các thầy phong thuỷ đã phát minh ra kim nam châm nhân tạo. Họ dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam châm để thu từ tính, rồi dùng kim đó để làm la bàn. La bàn lúc đầu còn rất thô sơ: xâu kim nam châm qua cọng rơm, sợi bấc đèn rồi thả nổi trên bát nước gọi là “thuỷ la bàn” hoặc treo kim nam châm bằng một sợi tơ ở chỗ kín gió.
La bàn được các thầy phong thuỷ sử dụng đầu tiên để xem hướng đất. Đến khoảng cuối thời Bắc Tống, la bàn được sử dụng trong việc đi biển. Khoảng nửa sau thế kỷ XII, la bàn theo đường biển truyền sang Ả Rập rồi truyền sang châu Âu. Người châu Âu cải tiến thành “la bàn khô” Tức là là bàn có khắc các vị trí cố định. Nửa sau thế kỷ XVI la bàn khô lại truyền trở lại Trung Quốc.
Có thể nói, bốn phát minh lớn của Trung Quốc cổ đại đã mang lại những thay đổi to lớn cho lịch sử nhân loại. Chúng không chỉ thể hiện trí tuệ và sự sáng tạo của người Trung Quốc mà còn góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của văn minh thế giới trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, khoa học, quân sự và hàng hải. Dù đã trải qua hàng nghìn năm, giá trị của những phát minh ấy vẫn còn được ghi nhận và trân trọng cho đến ngày nay.
Một số nội dung khác tại BlogAnChoi:



















































